Sáng kiến kinh nghiệm vận dụng đạt hiệu quả

Sáng kiến được công nhận CSTD Cơ sở năm học 2016-2017

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tư do – Hạnh phúc

 

 

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Mã số:………………….

 

1. Tên sáng kiến: Một số biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer.

2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: về giáo dục tiểu học

3. Mô tả bản chất của sáng kiến:

3.1. Tình trạng giải pháp đã biết:

Xã Thổ Sơn có diện tích 59,2 km², dân số năm 2016 có 14.297 người, toàn xã hiện có 6 ấp là: Hòn Sóc, Bến Đá, Hòn Me, Hòn Quéo, Hòn Đất và Vạn Thanh. Xã có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, chiếm 42% dân số; cuộc sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, đánh bắt thủy sản gần bờ, nuôi trồng thủy sản, lao động theo thời vụ, khai thác đá. Trường Tiểu học Hòn Sóc có nhiệm vụ tuyển sinh và giáo dục bậc tiểu học trên địa bàn 02 ấp: Bến Đá và Hòn Sóc. Hai ấp này có số lượng hộ nghèo, cận nghèo và người dân tộc Khmer đông nhất so với các ấp còn lại của xã. Để nâng cao chất lượng giáo dục học sinh nói chung, trong nhiều năm đã có những biện pháp được áp dụng. Với sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo nhà trường, sự cố gắng phấn đấu của thầy cô giáo và học sinh, chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên.

Với sự phấn đấu không ngừng của thầy cô giáo và học sinh, trường Tiểu học Hòn Sóc được công nhận lại trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 vào tháng 4 năm 2016. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, về đội ngũ giáo viên có đủ trình độ, năng lực để nhà trường từng bước phát triển bền vững.

Tuy có nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh nhưng vẫn chưa đủ để khẳng định nhà trường thực hiện thành công và đạt kết quả tốt nhất; còn nhiều bất cập trong việc nâng cao chất lượng học sinh dân tộc. Qua thống kê kết quả những năm học trước cho thấy:

- Học sinh dân tộc Khmer thường đạt yêu cầu ở mức độ trung bình (tốp dưới) so với học sinh còn lại về lĩnh vực kiến thức và giao tiếp trong trường học. Trong tổng số học sinh chưa hoàn thành các môn học phải rèn luyện, kiểm tra lại trong hè và học sinh lưu ban, bỏ học, tỷ lệ học sinh dân tộc Khmer chiếm 80%.

- Trong tổng số học sinh dân tộc Khmer chưa hoàn thành các môn học, phải rèn luyện trong hè đều yếu môn Tiếng Việt. Nguyên nhân cơ bản do địa bàn có tỷ lệ người dân tộc cao, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày bằng tiếng dân tộc; học sinh trước khi vào lớp 1 chưa qua mẫu giáo. Nhà trường vẫn chưa có những biện pháp tốt nhất để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer. Học sinh học Tiếng Việt chưa tốt sẽ kéo theo chất lượng các môn học khác.

Vì vậy việc đề xuất vận dụng giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt đối với học sinh dân tộc là hết sức cần thiết đối với trường Tiểu học Hòn Sóc.

3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

- Mục đích của giải pháp: Nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer, từ đó giúp các em học tập tốt các môn học khác; giúp nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục đảm bảo yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện.

- Nội dung giải pháp:

3.2.1) Xác định đúng đối tượng, đúng vấn đề:

Đây là sự khác biệt giữa giải pháp cũ và mới. Nếu như trước đây nhà trường chỉ có kế hoạch mang tính chất chung chung, với mục đích nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt hoặc môn Toán cho học sinh thì năm học 2016-2017 nhà trường đã xác định rõ chất lượng học tiếng Việt của 197 em học sinh dân tộc. Đây là mấu chốt của vấn đề khắc phục điểm yếu trong dạy học môn Tiếng Việt của trường; đảm bảo tính căn bản trước rồi mới nâng cao.

3.2.2) Hỗ trợ học sinh 6 tuổi (chưa qua mẫu giáo) trước khi vào lớp 1:

Năm học 2016-2017, toàn trường có 15 lớp với 439 học sinh (227 em nữ). Trong đó học sinh dân tộc Khmer là 196 em (nữ dân tộc 102) chiếm tỷ lệ 44,6%. Tỷ lệ huy động trẻ đến trường đạt 99,32%, trong đó trẻ 6 tuổi sinh năm 2010 vào lớp 1 đạt 100%. Với tỷ lệ học sinh dân tộc cao, ngay từ tháng 6 năm 2016 hiệu trưởng đã tổ chức xây dựng kế hoạch thực hiện một số biện pháp nhằm hỗ trợ học sinh dân tộc trước khi vào lớp 1. Tổ chức điều tra thống kê trẻ 6 chưa qua mẫu giáo và số trẻ dân tộc. Kết hợp đoàn thể, Hội khuyến học xã, ban Đại diện cha mẹ học sinh huy động trẻ thuộc đối tượng trên ra lớp học 4 tuần làm quen với tiếng Việt trước khi vào lớp 1. Chỉ đạo giáo viên thiết kế bài dạy ngoài việc tuân thủ theo quy đình đồng thời chủ yếu làm quen với lớp học, tăng cường giao lưu bằng tiếng Việt trong các hoạt động. Nhờ cha mẹ học sinh cử những phụ huynh biết tiếng dân tộc Khmer và biết dịch sang tiếng Việt và ngược lại, họ thay nhau hỗ trợ lớp học; cùng với giáo viên giúp học sinh dân tộc chưa “rành” tiếng Việt hiểu ý nghĩa của cuộc giao tiếp, tự tin và từng bước nâng cao khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt.

Giải pháp này góp phần giúp học sinh lớp 1 học tốt môn Tiếng Việt, kéo theo những môn học khác.

3.2.3) Tuyên truyền, vận động sự hỗ trợ của gia đình, xã hội nâng cao kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt:

Nhà trường tổ chức họp phụ huynh, tuyên truyền nhận thức phương pháp, cách thức đang thực hiện đối với học sinh dân tộc; họ hiểu được trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái trong học tập; ngoài việc giao tiếp hàng ngày bằng tiếng Khmer, gia đình cần tăng cường giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh lớp 1 nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp.

Tuyên truyền không kỳ thị tôn giáo, sắc tộc trong nhà trường và trong cộng đồng. Từ đó cha mẹ và học sinh thông cảm cho nhau, hiểu lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong việc giáo dục học sinh.

3.2.4) Dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở các môn học:

Đã chỉ đạo giáo viên thiết kế bài dạy phù hợp với tình hình của lớp có từ 43% đến 45% học sinh dân tộc. Cụ thể: muốn nâng cao chất lượng dạy học của lớp trước hết phải đạt được chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài học. Muốn đạt được chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài học trước hết giáo viên phải thiết kế dạy theo trình độ nhận thức của học sinh. Đối với trường có nhiều học sinh dân tộc cần phải có phương pháp, nội dung và hình thức phù hợp dành riêng cho đối tượng học sinh dân tộc; phải có nội dung tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc chưa “rành” tiếng Việt ở các môn học phù hợp.

Giải pháp này đã giúp học sinh đạt chuẩn kiến thức kỹ năng ở học kỳ I, qua học kỳ II, giáo viên đã có thể thay đổi “cách dạy” nâng cao chất lượng chứ không còn đơn thuần là đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng nữa.

3.2.5) Tổ chức các hoạt động giao lưu tiếng Việt cho học sinh dân tộc:

Một hoạt động không thể thiếu đối với một trường có 44,57% học sinh dân tộc Khmer đó là các hoạt động giao lưu tiếng Việt của chúng em tại lớp, tại trường và trong cụm.

Nhà trường thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Phòng Giáo dục và Đào tạo về tổ chức giao lưu tiếng Việt cho học sinh dân tộc. Nhưng đã vận dụng sáng tạo là có tổ chức giao lưu tiếng Việt cho học sinh trong lớp nhằm giúp các em dân tộc từng bước tự tin, mạnh dạn trước đông người, giúp lớp chọn học sinh đi giao lưu cấp trường, cấp cụm. Từ việc quan tâm thường xuyên, trong 5 năm tổ chức giao lưu tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer cấp cụm, trường Tiểu học Hòn Sóc luôn đạt giải cao.

Hàng năm hoạt động “Giao lưu tiếng Việt của chúng em” không những đã trở thành ngày hội của học sinh nói chung mà còn là của cha mẹ học sinh người dân tộc Khmer. Với nội dung và hình thức sáng tạo từng năm, hoạt động này đã khích lệ giáo viên, học sinh dạy học môn Tiếng Việt tốt hơn.

3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp:

Giải pháp đã được thực hiện thành công ở trường Tiểu học Hòn Sóc, xã Thổ Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Song có thể nhân rộng đối với bất cứ trường tiểu học nào có tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, có đội ngũ cán bộ, giáo viên nhiệt tình, sáng tạo.

3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp:

Sau khi áp dụng các giải pháp trên đạt kết quả như sau:

  • 100% giáo viên đồng tình và vận dụng tốt giải pháp dạy và học môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc hoặc tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở các môn học một cách phù hợp.
  • Kết quả giao lưu tiếng Việt của chúng em cấp cụm năm học 2014-2015 xếp hạng 3/5 trường; năm học 2015-2016 đứng hạng 2/5 trường; năm học 2016-2017 xếp hạng nhất.
  • Kết quả đánh giá từ việc khảo sát và kiểm tra giữa học kỳ II năm học 2016-2017 như sau:

Khối lớp

Tổng số học sinh

Tổng số học sinh dân tộc

Học sinh đọc viết đạt chuẩn theo yêu cầu

Học sinh đọc chậm, viết chậm và còn sai chính tả

Học sinh chưa biết đọc, biết viết

Học sinh dân tộc đọc, viết đạt chuẩn theo yêu cầu

T.Số

%

T.Số

%

T.Số

%

T.Số

%

Một

86

40

82

95,3

04

4,7

0

 

39

97,5

Hai

106

39

103

97,2

03

2,8

0

 

38

97,4

Ba

93

43

92

98,9

01

1,1

0

 

43

100

Bốn

78

40

77

98,7

1

1,3

0

 

40

100

Năm

76

34

76

100

0

0

0

 

34

100

Cộng:

439

196

430

97,9

09

2.1

0

 

194

98,9

 

Nhìn chung trước khi chưa áp dụng những giải pháp trên chất lượng môn Tiếng Việt của trường vẫn được quan tâm và đảm bảo theo yêu cầu chung của ngành (xếp loại hoàn thành môn học đạt từ 95% ) nhưng các em chưa hoàn thành thường rơi vào học sinh dân tộc Khmer. Sau khi các biện pháp nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc Khmer được áp dụng, chất lượng môn Tiếng Việt của trường nói chung được nâng lên và không còn khoảng cách phân biệt giữa các dân tộc.

3.5. Tài liệu kèm theo gồm: không có tài liệu kèm theo.

 

 

                                                                                                                                                                                                 Thổ Sơn, ngày 24 tháng 4 năm 2017

                                                                                                                                                                                                                       Người mô tả

                                                                                                                                                                                                                    (Trần Thanh Thúy)

 

Bài viết liên quan